Đề cương tuyên truyền Đại hội Đảng bộ tỉnh Hậu Giang lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2020 - 2025
30/9/2020, 21:27 (GMT+7)

ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hậu Giang lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2020 - 2025

-----

 

I. Ý nghĩa, tầm quan trọng và quá trình chuẩn bị Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hậu Giang lần thứ XIV

1. Ý nghĩa và tầm quan trọng của Đại hội

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hậu Giang lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2020 -2025, được tổ chức từ ngày 12 - 14/10/2020, tại thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang. Đây là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng của toàn Đảng bộ, toàn dân và toàn quân Hậu Giang, có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển toàn diện của tỉnh giai đoạn 2020 - 2025, tạo sự thống nhất về chính trị, tư tưởng và hành động trong toàn Đảng bộ và Nhân dân tỉnh nhà, xác định rõ trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên trước nhiệm vụ được Đảng và Nhân dân giao.

Đại hội được tiến hành trong bối cảnh cả nước đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử quan trọng sau hơn 30 năm đổi mới; các cấp, các ngành thi đua lập thành tích chào mừng đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; mừng Đảng Cộng sản Việt Nam tròn 90 tuổi và kỷ niệm 130 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh; đặc biệt, Việt Nam đang nỗ lực phòng, chống dịch bệnh Covid-19 và khắc phục hậu quả do ảnh hưởng thiên tai; hội nhập quốc tế, phấn đấu vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Đại hội có nhiệm vụ tổng kết việc thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII, kiểm điểm sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2015 - 2020, xác định mục tiêu, nhiệm vụ nhiệm kỳ 2020 - 2025 và đề ra những chủ trương, giải pháp, nhiệm vụ đột phá, phấn đấu tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt khá; bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XIV; bầu Đoàn đại biểu đi dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; tham gia ý kiến góp ý các văn kiện trình Đại hội của tỉnh và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

2. Quá trình chuẩn bị Đại hội

2.1. Tổ chức đại hội cấp cơ sở, cấp trên trực tiếp cơ sở tiến tới Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV

Tỉnh Hậu Giang có 11 đảng bộ trực thuộc, với 511 chi bộ, đảng bộ cơ sở, trong đó có 75 đảng bộ xã, phường, thị trấn, 92 đảng bộ cơ sở ngành tỉnh, 273 chi bộ cơ sở ngành huyện, 71 chi bộ cơ sở ngành tỉnh, với 33.474 đảng viên.

Từ ngày 24/02 - 31/3/2020, tỉnh hoàn thành tổ chức đại hội điểm cấp cơ sở, trong đó đã chọn đại hội điểm tại Đảng bộ thị trấn Nàng Mau, huyện Vị Thủy, Đảng bộ Sở Xây dựng tỉnh, Đảng bộ Bưu điện Hậu Giang. Đến ngày 18/6/2020, tỉnh tổ chức xong 504/504 đảng bộ, chi bộ cơ sở nhiệm kỳ 2020 - 2025, trong đó hoàn thành sớm nhất là Đảng bộ thành phố Ngã Bảy, Đảng bộ thị xã Long Mỹ và Đảng bộ Công an tỉnh. Đại hội cấp cơ sở đã bầu 2.834 đồng chí tham gia cấp ủy viên khóa mới, trong đó tái cử: 2.225, ứng cử mới: 608; nữ: 580, trẻ: 374, người dân tộc thiểu số: 10. 

Ngày 06/6/2020, tỉnh bắt đầu tổ chức đại hội đảng bộ cấp trên trực tiếp cơ sở, trong đó chọn điểm chỉ đạo đại hội tại Đảng bộ thành phố Ngã Bảy, Đảng bộ Công an tỉnh và Đảng bộ thị xã Long Mỹ. Đến ngày 31/7/2020, tỉnh đã tổ chức xong 11/11 đảng bộ cấp huyện và tương đương nhiệm kỳ 2020 - 2025. Đại hội cấp trên cơ sở đã bầu 401 đồng chí tham gia cấp ủy viên khóa mới, trong đó tái cử: 319, ứng cử mới: 82; nữ: 59, trẻ: 52, người dân tộc thiểu số: 01. 

Kết quả của đại hội cấp cơ sở và cấp trên trực tiếp cơ sở thời gian qua chính là tiền đề quan trọng để tỉnh tổ chức thành công Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2020 - 2025 vào giữa tháng 10/2020 tới.

2.2. Công tác chuẩn bị Đại hội cấp tỉnh

Thực hiện Chỉ thị 35-CT/TW ngày 30/5/2019 của Bộ Chính trị, khóa XII về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; ngày 07/11/2019, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Kế hoạch số 153-KH/TU về chỉ đạo đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Đồng thời, ban hành Hướng dẫn số 05-HD/TU ngày 20/02/2020 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về hướng dẫn thực hiện một số nội dung Kế hoạch số 153-KH/TU của Tỉnh ủy về chỉ đạo đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng nhiệm kỳ 2020 - 2025 và các kế hoạch triển khai công tác chuẩn bị đại hội đảng bộ các cấp về xây dựng văn kiện, công tác nhân sự và tiến hành bầu cử, số lượng đại biểu dự Đại hội... và chọn điểm chỉ đạo đại hội chi bộ, đảng bộ cơ sở, đảng bộ cấp huyện và tương đương. Tỉnh ủy đã thành lập các Tiểu ban: Văn kiện, Nhân sự, Kinh tế - Xã hội; Tuyên truyền và phục vụ Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hậu Giang lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2020 - 2025, đồng thời thành lập các Tổ giúp việc của 04 Tiểu ban để phục vụ Đại hội.

Để chuẩn bị tốt nội dung Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII trình Đại hội XIV, Ban Thường vụ Tỉnh ủy chỉ đạo triển khai lấy ý kiến góp ý của cán bộ, đảng viên và Nhân dân trong toàn tỉnh. Qua đó, Mặt trận, các đoàn thể chính trị - xã hội, các cấp, các ngành đã chủ động tổ chức hội nghị, hội thảo để thảo luận và lấy ý kiến góp ý của cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên, cán bộ hưu trí, đội ngũ trí thức, văn nghệ sỹ, các chức sắc tôn giáo, dân tộc... Hầu hết ý kiến đóng góp nhiệt tình, thẳng thắn và tâm huyết, thể hiện tinh thần trách nhiệm, mong muốn tỉnh nhà ngày càng phát triển nhanh và bền vững. Trên cơ sở đó, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XIII tiếp thu và bổ sung vào Dự thảo Báo cáo chính trị trình tại Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV.

Công tác chuẩn bị nhân sự được Tỉnh ủy thảo luận và xác định đúng yêu cầu, tiêu chuẩn, cơ cấu và quy trình giới thiệu nhân sự Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hậu Giang khóa XIV trình Đại hội theo yêu cầu của Chỉ thị 35-CT/TW của Bộ Chính trị và Hướng dẫn số 36-HD/BTCTW của Ban Tổ chức Trung ương.

Ngày 14/9/2020, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã trình Bộ Chính trị phê duyệt văn kiện và công tác nhân sự Đại hội cấp tỉnh trước khi tiến hành Đại hội. Đồng thời, tỉnh còn tổ chức họp báo thông tin về công tác chuẩn bị và tổ chức Đại hội cho báo chí, góp phần tuyên truyền, tổ chức thành công Đại hội.

II. Đại hội Đảng bộ tỉnh Hậu Giang từ năm 2004 đến nay

Từ ngày 01/01/2004, Hậu Giang chính thức đi vào hoạt động trên cơ sở chia tách từ tỉnh Cần Thơ; đến nay đã trải qua 03 kỳ đại hội Đảng bộ tỉnh.

1. Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hậu Giang lần thứ XI được tổ chức từ ngày 21 đến ngày 22 tháng 11 năm 2005, tại thị xã Vị Thanh (nay là thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang). Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh 49 đồng chí; bầu 11 đại biểu chính thức đi dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X; đồng chí Nguyễn Phong Quang được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy.

2. Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hậu Giang lần thứ XII được diễn ra từ ngày 28 đến ngày 30 tháng 9 năm 2010, tại thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh 54 đồng chí; bầu 15 đại biểu chính thức đi dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI; đồng chí Huỳnh Minh Chắc được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy.

3. Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hậu Giang lần thứ XIII được tổ chức từ ngày 14 đến ngày 16 tháng 10 năm 2015, tại thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh 52 đồng chí; bầu 16 đại biểu chính thức đi dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII; đồng chí Trần Công Chánh được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy; đến tháng 12/2017 đồng chí Lữ Văn Hùng được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy; đến tháng 7/2020 đồng chí Lê Tiến Châu được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy.

4. Hướng tới Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hậu Giang lần thứ XIV  được tổ chức từ ngày 12 đến ngày 14 tháng 10 năm 2020, tại thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang; dự kiến có 349 đại biểu chính thức tham dự. Với phương châm “Đoàn kết, dân chủ, kỷ cương, đổi mới, phát triển”, Chủ đề Đại hội: “Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc; xây dựng Đảng bộ, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; bảo đảm quốc phòng, an ninh; phát triển bền vững, hài hòa giữa kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường; huy động mọi nguồn lực đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, ưu tiên công nghiệp, phát triển nông nghiệp bền vững; khuyến khích đầu tư lĩnh vực thương mại, dịch vụ, du lịch; phấn đấu tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt khá. Đại hội sẽ đánh giá kết quả thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2015 - 2020; đề ra mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh giai đoạn 2020 - 2025; đóng góp dự thảo văn kiện trình Đại hội; bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hậu Giang nhiệm kỳ 2020 - 2025, bầu Đoàn đại biểu dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

III. Kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2015 - 2020; phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội nhiệm kỳ 2020 - 2025:

1. Kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2015 - 2020

1.1. Những kết quả đạt được

Nhiệm kỳ qua, Đảng bộ, quân và dân trong tỉnh đã không ngừng phấn đấu vượt qua khó khăn, thách thức, đoàn kết, nỗ lực thực hiện đạt được những kết quả tích cực. Hầu hết các chỉ tiêu đều đạt và vượt, hoàn thành mục tiêu Nghị quyết, đặc biệt nhiều nội dung trong 03 nhiệm vụ đột phá của nhiệm kỳ đạt kết quả nổi bật: Công tác xúc tiến đầu tư được đẩy mạnh, thu hút nhiều doanh nghiệp lớn đến đầu tư tại tỉnh: Tập đoàn FLC, Công ty Cổ phần Tập đoàn địa ốc Cát Tường, Tập đoàn Vingroup,...; khai thác, sử dụng khá hiệu quả các khu, cụm công nghiệp; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội tiếp tục khởi sắc, trọng tâm là hạ tầng đô thị; xây dựng nông thôn mới vượt kế hoạch đề ra. Công tác quy hoạch, đào tạo nguồn nhân lực được chú trọng, nhất là cán bộ nữ, trẻ, dân tộc; qua kết quả đại hội cấp cơ sở, tỷ lệ nữ nhiệm kỳ 2020 - 2025 là 20,46%, tăng 3,46% so nhiệm kỳ trước.

Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị được chỉ đạo thực hiện toàn diện. Tư tưởng chính trị và đạo đức được chú trọng, tăng cường; đại đa số cán bộ, đảng viên và Nhân dân tin tưởng vào đường lối đổi mới của Đảng, tích cực tham gia phong trào thi đua yêu nước, lao động sáng tạo tại địa phương, đơn vị. Tổ chức bộ máy và cán bộ được lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện với quyết tâm cao, bước đầu đã sắp xếp lại tổ chức bộ máy, giảm đầu mối, giảm biên chế theo tinh thần Nghị quyết số 18 và 19-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII; chất lượng tổ chức cơ sở đảng, đảng viên được nâng lên; đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức cơ bản đạt chuẩn theo quy định. Công tác kiểm tra, giám sát được tăng cường, có đổi mới, đặc biệt là đã đề ra chỉ tiêu để triển khai thực hiện trong toàn Đảng bộ, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong công tác phòng ngừa vi phạm.

Công tác dân vận có nhiều đổi mới, sáng tạo; tổ chức tốt các cuộc tiếp xúc đối thoại trực tiếp của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền với Nhân dân, góp phần tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân. Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội có nhiều tiến bộ, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố, tăng cường; các tổ chức hội, đoàn thể ở cơ sở thường xuyên được kiện toàn; số lượng đoàn viên, hội viên ngày càng thực chất.

Lĩnh vực nông nghiệp phát triển khá ổn định; cơ sở hạ tầng được đầu tư xây dựng, nâng tương đối hoàn chỉnh, nhất là thủy lợi và giao thông; đặc biệt, hoàn thành mục tiêu xây dựng nông thôn mới sớm hơn 01 năm so với Nghị quyết. Sức cạnh tranh các sản phẩm nông sản chủ lực của Tỉnh được cải thiện và từng bước hình thành chuỗi giá trị sản xuất sạch. Công nghiệp duy trì đà tăng trên 12%/năm; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội tiếp tục được xây dựng, nâng cấp; khai thác tốt các nguồn lực cho đầu tư phát triển, nhất là công tác thu hút đầu tư; xây dựng và phát triển đô thị tiếp tục chuyển biến tích cực, hoàn thành xuất sắc mục tiêu phát triển và nâng loại đô thị: Vị Thanh, Ngã Bảy và Long Mỹ. Thu ngân sách, kim ngạch xuất nhập khẩu, giải quyết việc làm vượt chỉ tiêu nhiệm kỳ; chi ngân sách đúng quy định và đảm bảo các nhiệm vụ chính trị của địa phương; chất lượng tín dụng được nâng lên, nợ xấu được kiểm soát dưới ngưỡng quy định. Thương mại, dịch vụ phát triển khá, nhiều trung tâm thương mại đa chức năng, hiện đại đi vào hoạt động (Vincom, Điện máy xanh,…); ngành du lịch tuy doanh thu còn khiêm tốn nhưng có tốc độ tăng trưởng đạt cao, nhất là thời điểm cuối nhiệm kỳ, các công trình, dự án đầu tư phát triển du lịch hoàn thành, đi vào hoạt động.

Các lĩnh vực văn hóa - xã hội, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ tiếp tục phát triển; an sinh, phúc lợi xã hội, chăm lo gia đình có công với nước luôn được quan tâm và thực hiện kịp thời; thành tích thể thao của Tỉnh đạt kết quả cao; tốc độ giảm nghèo nhanh (trên 2%/năm), đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân được cải thiện, nâng lên; công tác chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân được tăng cường. Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia đứng đầu các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu được quan tâm và có nhiều chuyển biến tích cực. 

Quốc phòng - an ninh được giữ vững ổn định; tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, tai nạn giao thông được kiềm chế, giảm cả 03 tiêu chí so với nhiệm kỳ trước. Công tác phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm chống lãng phí được chú trọng. Hoạt động đối ngoại đạt kết quả tốt. Xây dựng chính quyền được quan tâm thường xuyên; hiệu lực, hiệu quả trong quản lý, điều hành từng bước được nâng lên. Cải cách hành chính đạt kết quả vượt bậc, các chỉ số cạnh tranh của tỉnh đều tăng điểm qua từng năm; riêng Chỉ số năng lực cạnh tranh (PCI) của tỉnh năm 2019 từ nhóm trung bình lên nhóm khá. Phát triển nguồn nhân lực đảm bảo kế hoạch. Thực hành dân chủ trong Đảng bộ được mở rộng, nâng cao.

1.2. Những hạn chế, yếu kém

Công tác chính trị - tư tưởng trong nội bộ và trong nhân dân có lúc chưa hiệu quả. Tổ chức thực hiện nghị quyết có mặt còn hạn chế, nhất là khâu kiểm tra, sơ kết, tổng kết thực tiễn. Một số nơi lãnh đạo thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, khóa XII), Chỉ thị 05-CT/TW và các quy định về nêu gương chưa chủ động phát hiện, ngăn chặn những biểu hiện tiêu cực. Tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm trong kiểm điểm tự phê bình và phê bình vẫn còn diễn ra ở một số cấp ủy, tổ chức đảng; việc cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức gắn với xây dựng vị trí việc làm còn lúng túng; công tác bảo vệ chính trị nội bộ còn bị động, nhất là việc nắm các vấn đề về chính trị hiện nay; tình hình đảng viên bỏ sinh hoạt, xin ra khỏi Đảng nhiều; kết quả cải cách thủ tục hành chính trong Đảng một số ngành chưa đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.

Công tác tuyên truyền, vận động, giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội một số nơi chưa thật sự đi vào chiều sâu; việc nắm tâm tư, nguyện vọng trong đoàn viên, hội viên có lúc chưa kịp thời. Một số tổ chức đoàn thể chậm đổi mới về nội dung, phương thức hoạt động; một số phong trào, cuộc vận động chưa thật sự thiết thực; công tác quản lý đoàn viên, hội viên chưa sâu sát.

Kết quả thực hiện các chỉ tiêu chưa toàn diện (tốc độ tăng trưởng kinh tế và GRDP bình quân đầu người chưa đạt Nghị quyết đề ra); một vài lĩnh vực phát triển thiếu bền vững; một số nội dung các nhiệm vụ đột phá có mặt còn hạn chế, nhất là việc ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất còn khiêm tốn; kinh tế tập thể yếu về số lượng và chất lượng; chưa khai thác hết tiềm năng và lợi thế để phát triển thương mại, dịch vụ, du lịch; cải cách hành chính chưa đồng bộ. 

Còn lúng túng trong xác định hướng phát triển của tỉnh. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng nhưng còn chậm; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội chưa đồng bộ. Sản xuất nông nghiệp chưa khắc phục được tình trạng manh mún, nhỏ lẻ, phát triển thiếu bền vững; xây dựng chuỗi giá trị cho nông sản chủ lực (khóm, cam, bưởi,...) còn hạn chế. Chất lượng, hiệu quả hoạt động của các hợp tác xã chưa cao. Công nghiệp chế biến (trụ cột tăng trưởng của tỉnh) phát triển chưa có nhiều đột phá. Thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hóa xuất khẩu chưa nhiều, sức cạnh tranh một số sản phẩm chủ lực của Tỉnh còn yếu.

Phát triển thương mại, dịch vụ có chuyển biến nhưng khả năng tiêu dùng của thị trường trong tỉnh còn hạn chế. Lĩnh vực du lịch có nhiều cố gắng nhưng chưa đạt như mong muốn, một số điểm đến chưa thu hút đông đảo khách tham quan, chưa có sản phẩm riêng của địa phương. Công tác quản lý báo chí chưa theo kịp bối cảnh, tình hình mới. Chất lượng nguồn nhân lực còn thấp so với yêu cầu phát triển. Nhu cầu khám, chữa bệnh đòi hỏi kỹ thuật cao của người dân chưa đáp ứng hiệu quả. Ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất chưa nổi bật. Hạ tầng công nghệ thông tin còn yếu kém. 

Tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội còn tiềm ẩn những vấn đề phức tạp, nhất là vấn đề ma túy, an ninh nông thôn; hoạt động của một vài bộ phận trong lĩnh vực tư pháp có mặt chưa đáp ứng yêu cầu.

1.3. Nguyên nhân hạn chế, yếu kém

a. Nguyên nhân khách quan

Chịu sự tác động chung của cả nước như: các dịch bệnh nguy hiểm (dịch tả lợn Châu Phi, Covid-19,...), biến đổi khí hậu, hạn, xâm nhập mặn, sạt lở đất, thời tiết cực đoan,... giá cả sản phẩm nông nghiệp không ổn định, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của Nhân dân.

Nhu cầu đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng rất lớn, nhưng nguồn lực còn hạn hẹp; tăng trưởng kinh tế vẫn còn phụ thuộc nhiều vào yếu tố vốn đầu tư. Nhiều nhiệm vụ mới phát sinh nên ảnh hưởng hiệu quả công việc.

Các thế lực phản động không ngừng chống phá, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội còn tiềm ẩn yếu tố phức tạp.

b. Nguyên nhân chủ quan

 Năng lực dự báo, phân tích, đánh giá nguồn lực chưa sát, xây dựng một số chỉ tiêu không phù hợp với khả năng thực tế của Tỉnh.

Một số ít đồng chí trong cấp ủy, thủ trưởng các sở, ban, ngành, địa phương, năng lực lãnh đạo, điều hành hạn chế, thiếu tính toàn diện, linh hoạt, sáng tạo, tầm nhìn dài hạn, biểu hiện thụ động, trông chờ, ỷ lại,...; chưa tích cực trong tham mưu, đóng góp cho sự phát triển chung của Tỉnh. Trình độ, năng lực của một số cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và cán bộ làm công tác Mặt trận, các đoàn thể ở cơ sở chưa đáp ứng yêu cầu; khát vọng và ý chí vươn lên của một bộ phận cán bộ, công chức, đảng viên và Nhân dân chưa mạnh mẽ.

Việc đấu tranh xây dựng nội bộ có nơi chưa cao; công tác nắm tình hình tư tưởng của cán bộ, đảng viên ở một vài tổ chức đảng chưa chặt chẽ; một số đảng bộ, chi bộ có biểu hiện chưa thật sự đoàn kết thống nhất. Chưa có giải pháp khắc phục triệt để tình trạng đảng viên đi làm xa, bỏ sinh hoạt Đảng.

Công tác phối hợp có lúc, có việc chưa nhịp nhàng, chặt chẽ.

2. Phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu giai đoạn 2020 - 2025

2.1. Mục tiêu tổng quát

Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc; xây dựng Đảng bộ, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; bảo đảm quốc phòng, an ninh; phát triển bền vững, hài hòa giữa kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường; huy động mọi nguồn lực đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, ưu tiên công nghiệp, phát triển nông nghiệp bền vững; khuyến khích đầu tư lĩnh vực thương mại, dịch vụ, du lịch; phấn đấu tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt khá.

2.2. Nhiệm vụ chủ yếu

Phát huy dân chủ, tăng cường kỷ cương, kỷ luật, xây dựng đội ngũ cán bộ ngang tầm nhiệm vụ; tiếp tục học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đổi mới công tác vận động quần chúng và nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội.

Tập trung phát triển kinh tế, đẩy mạnh thu hút đầu tư, phát huy sức mạnh tổng hợp mọi thành phần kinh tế; tạo điều kiện phát triển doanh nghiệp, có chính sách quan tâm doanh nghiệp tư nhân; xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội kết nối giữa các địa phương trong Tỉnh và giữa Tỉnh với các tỉnh, thành trong khu vực. Chủ động và tích cực trong liên kết vùng và hội nhập quốc tế.

Xây dựng văn hóa và con người Hậu Giang phát triển toàn diện, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững. Chú trọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực làm cơ sở nâng cao năng suất lao động và thu nhập bình quân cho Nhân dân.

Nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý nhà nước trên các lĩnh vực gắn với củng cố, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; bảo đảm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội; ngăn chặn và đẩy lùi quan liêu, tham nhũng, lãng phí, các tệ nạn xã hội. Đẩy mạnh ứng dụng chuyển giao khoa học công nghệ; nâng cao chất lượng dịch vụ y tế; bảo đảm an sinh xã hội; giải quyết tốt các vấn đề xã hội, bảo vệ môi trường, phòng chống dịch bệnh, ứng phó với biến đổi khí hậu; tận dụng tiềm năng, lợi thế để phát triển du lịch. 

2.3. Nhiệm vụ đột phá

Thứ nhất, xây dựng hoàn thành và thực hiện nghiêm Quy hoạch tỉnh Hậu Giang thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng phát triển công nghiệp, hạ tầng giao thông thủy bộ quan trọng kết nối giữa các địa phương trong Tỉnh và giữa Tỉnh với các địa phương trong khu vực. Ưu tiên nguồn lực hỗ trợ các doanh nghiệp, hợp tác xã, phát triển mô hình kinh tế tuần hoàn, các mô hình kinh tế hiệu quả trong nông nghiệp.

Thứ hai, tập trung công tác xây dựng và hoàn thiện thể chế, chính sách của địa phương, đặc biệt là hệ thống cơ chế, chính sách thu hút đầu tư, phát triển doanh nghiệp, hợp tác xã theo hướng ưu đãi, cạnh tranh so với các địa phương khác, dễ tiếp cận, chi phí thấp.

Thứ ba, thực hiện cải cách hành chính mạnh mẽ, gắn với xây dựng chính quyền điện tử, thực hiện chuyển đổi số các ngành, lĩnh vực, phát triển đô thị thông minh kinh tế số; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong mọi hoạt động kinh tế - xã hội; xây dựng bộ máy chính quyền từ Tỉnh tới cơ sở tinh gọn, hoạt động minh bạch, hiệu lực, hiệu quả với phương châm kiến tạo, đồng hành, phục vụ người dân và doanh nghiệp. Thu hút và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp có phẩm chất đạo đức, tâm huyết vì sự phát triển của Tỉnh, đủ năng lực, trình độ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

2.4. Các chỉ tiêu chủ yếu nhiệm kỳ 2020 - 2025

(1) Trong nhiệm kỳ, kết nạp 2.000 - 2.500 đảng viên. Tỷ lệ tổ chức cơ sở đảng và đảng viên được đánh giá, xếp loại hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đúng quy định, hướng dẫn của Trung ương.

(2) Phấn đấu đến năm 2025, số hộ có đoàn viên, hội viên các đoàn thể chính trị - xã hội đạt 82% và số tổ chức cơ sở của các đoàn thể chính trị - xã hội vững mạnh hàng năm đạt trên 85%.

(3) Điểm số chỉ số cải cách hành chính (PAR INDEX) và Chỉ số sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông (VIET NAM ICT INDEX) năm sau cao hơn năm trước; phấn đấu hàng năm, chỉ số PAR INDEX trong nhóm 30 tỉnh dẫn đầu; đến năm 2025, chỉ số VIET NAM ICT INDEX trong nhóm 30 tỉnh dẫn đầu.

(4) Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 6,5 - 7%/năm.

(5) GRDP bình quân đầu người là 77 - 80 triệu đồng.

(6) Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng khu vực I, tăng tỷ trọng khu vực II và III, đến năm 2025 khu vực I còn dưới 22%.

(7) Tổng vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn (5 năm) theo giá thực tế từ 99.000 - 100.000 tỷ đồng.

(8) Số doanh nghiệp được thành lập mới có hoạt động và kê khai thuế (5 năm) là 1.000 doanh nghiệp.

(9) Tổng thu ngân sách nhà nước (5 năm) từ 44.000 - 45.000 tỷ đồng, trong đó: Thu nội địa là 17.800 tỷ đồng.

(10) Kim ngạch xuất khẩu và dịch vụ thu ngoại tệ (5 năm) đạt 4.330 triệu USD.

(11) Giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân mỗi năm từ 1%.

(12) Tỷ lệ lao động qua đào tạo đến năm 2025 đạt từ 70%. Số lao động được tạo việc làm trong 5 năm là 75.000 lao động.

(13) Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia chiếm 85% tổng số trường, số sinh viên trên 10.000 người dân là 225 sinh viên.

(14) Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng dưới 11%; số bác sĩ trên 10.000 dân là 10; số giường bệnh trên 10.000 dân là 36.

(15) Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế 95%.

(16) Tỷ lệ xã nông thôn mới đạt trên 80% tổng số xã; công nhận thêm 01 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn nông thôn mới.

(17) Tỷ lệ dân số ở thành thị sử dụng nước sạch 100%, tỷ lệ dân số nông thôn sử dụng nước sạch 85%.

(18) Công tác tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ hàng năm đạt 100% chỉ tiêu trên giao; bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh cho các đối tượng đạt 100% kế hoạch. Đảm bảo an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn; kiềm chế số vụ phạm tội về trật tự xã hội và tai nạn giao thông.

2.5. Các nhóm giải pháp chủ yếu

(1) Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng và chất lượng đảng viên

Đổi mới phương pháp tuyên truyền, giáo dục trong công tác chính trị, tư tưởng và đạo đức. Xây dựng Đảng về tổ chức tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát. Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận, tăng cường quan hệ mật thiết với Nhân dân. Tăng cường công tác nội chính; nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cấp ủy đảng, ban cán sự đảng của cơ quan tư pháp trong lãnh đạo công tác tư pháp; tuyên truyền, giáo dục pháp luật; giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Tăng cường đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội.

Công tác xây dựng chính quyền: Đảm bảo sự lãnh đạo của cấp ủy đảng đối với công tác cải cách hành chính; Nâng cao hiệu quả giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh và Hội đồng nhân dân, hiệu quả điều hành của Ủy ban nhân dân các cấp; Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong sạch, đủ về trình độ, đạo đức, làm cơ sở xây dựng chính quyền điện tử; quan tâm công tác thi đua - khen thưởng.

(2) Phát triển kinh tế - xã hội

Huy động mọi nguồn lực đầu tư phát triển kinh tế, ưu tiên công nghiệp chế biến, chế tạo; tạo môi trường bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, khuyến khích phát triển các loại hình doanh nghiệp; phát triển nông nghiệp bền vững, hướng tới công nghệ cao; gắn với thích ứng biến đổi khí hậu và xây dựng nông thôn mới; phát triển đô thị; xây dựng cơ chế, chính sách phát triển thương mại - dịch vụ trên cơ sở phát huy tốt lợi thế so sánh về địa lý, giao thông, quy hoạch; nâng cao năng lực quản lý quy hoạch, kiểm soát, khai thác, sử dụng hiệu quả và bền vững các nguồn tài nguyên, nhất là đất đai; quan tâm công tác tài chính - tín dụng.

Phát triển văn hóa - xã hội, quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường: Đổi mới giáo dục, đào tạo theo hướng căn bản và toàn diện; thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo; Nâng cao hiệu quả của khoa học, công nghệ; Quán triệt và vận dụng sáng tạo các nghị quyết của Trung ương về văn hóa và kết hợp nền tảng văn hóa truyền thống của Hậu Giang; Nâng cao thành tích thể dục, thể thao, nhất là các môn thể thao thế mạnh của tỉnh; Tận dụng tiềm năng, phát triển du lịch; Tập trung nâng cao chất lượng, đa dạng hóa loại hình hoạt động của báo chí, phát thanh và truyền hình, thông tin truyền thông, bưu chính, viễn thông; Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác y tế, chăm sóc sức khỏe, tầm vóc, tuổi thọ và chất lượng cuộc sống của người dân; Thực hiện đầy đủ chế độ, chính sách cho đối tượng người có công, đối tượng bảo trợ xã hội; Coi trọng bảo vệ môi trường, chủ động phòng, chống thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu.

(3) Quốc phòng, an ninh và đối ngoại

Tập trung xây dựng các tiềm lực và thế trận trong khu vực phòng thủ, xây dựng nền quốc phòng toàn dân ngày càng vững chắc; Bảo đảm an ninh, trật tự; chủ động phòng, chống những diễn biến mới phát sinh trên địa bàn; Quán triệt và vận dụng sáng tạo các nghị quyết của Trung ương về đối ngoại nhằm tăng cường mối quan hệ với nước ngoài, tổ chức quốc tế,... tranh thủ nguồn lực bên ngoài.

2.6. Giải pháp thực hiện các nhiệm vụ đột phá

(1) Xây dựng hoàn thành và thực hiện nghiêm Quy hoạch tỉnh Hậu Giang giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn 2050. Mở rộng quy hoạch phát triển công nghiệp, tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng phát triển công nghiệp, hạ tầng giao thông thủy bộ quan trọng kết nối giữa các địa phương trong tỉnh và giữa tỉnh với các địa phương trong khu vực. Ưu tiên nguồn lực hỗ trợ các doanh nghiệp, hợp tác xã, phát triển mô hình kinh tế tuần hoàn, các mô hình kinh tế hiệu quả trong nông nghiệp.

(2) Xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù, ưu đãi đặc biệt trên một số lĩnh vực để thu hút đầu tư, phát triển doanh nghiệp, hợp tác xã theo hướng ưu đãi, cạnh tranh so với các địa phương khác, dễ tiếp cận, chi phí thấp.

(3) Thực hiện cải cách hành chính mạnh mẽ, gắn với xây dựng chính quyền điện tử; hướng tới chính quyền số, phát triển kinh tế số; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan, đơn vị thực thi công vụ đến mọi hoạt động kinh tế - xã hội; quan tâm xây dựng bộ máy chính quyền từ Tỉnh tới cơ sở tinh gọn, hoạt động minh bạch, hiệu lực, hiệu quả với phương châm “kiến tạo, đồng hành, phục vụ người dân và doanh nghiệp”. Thu hút và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực chất lượng cao, có phẩm chất đạo đức, tâm huyết, đủ năng lực, trình độ đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ và sự hỗ trợ, giúp đỡ của các ban, bộ, ngành Trung ương, các tỉnh, thành phố trong cả nước, các nhà khoa học, doanh nghiệp, văn nghệ sĩ,... cùng với truyền thống cách mạng và những kinh nghiệm quý báu, những thành tựu đạt được hơn 16 năm qua, sự năng động, sáng tạo, đoàn kết, kiên quyết vượt qua khó khăn, thử thách, chung sức, chung lòng của Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân, nhất định Hậu Giang sẽ thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2020 - 2025, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV, xây dựng quê hương, con người Hậu Giang “Đoàn kết, nghĩa tình, thủy chung, năng động”, ngày càng phát triển. Nhân dân tỉnh nhà ngày càng có cuộc sống tốt hơn, góp phần cùng cả nước đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

 

BAN TUYÊN GIÁO TỈNH ỦY HẬU GIANG

 

 

 

Các tin khác